Home » » Tổng quan ngành cà phê Việt Nam

Tổng quan ngành cà phê Việt Nam

Tin tức nông nghiệp | 22.3.13 | 0 comments
Cây cà phê được người Pháp đưa vào Việt Nam từ những năm 1850. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất được thực hiện manh mún và thiếu tổ chức cho đến năm 1975 khi bắt đầu có những đợt di dân từ khu vực đồng bằng và duyên hải ven biển đến vùng cao nguyên, nơi có điều kiện thích hợp để trồng cà phê. Hoạt động sản xuất có được mở rộng tuy nhiên vẫn rất nhỏ lẻ. Đến năm 1986, khi công cuộc đổi mới được tiến hành, cây cà phê mới được đưa vào quy hoạch và tổ chức sản xuất quy mô lớn, tập trung. Đến năm 1988, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu cà phê lớn thứ tư toàn thế giới (chiếm 6.5% sản lượng thế giới), đứng sau Brazil, Colombia và xấp xỉ bằng Indonesia. 


Cho đến năm 1999, hoạt động xuất khẩu cà phê vẫn giới hạn cho doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, sau thời điểm này, các doanh nghiệp khối tư nhân đã được cho phép tham gia vào thị trường cà phê xuất khẩu. Gần 92% sản lượng cà phê của Việt Nam được xuất ra thị trường nước ngoài, chỉ có 8% tổng sản lượng cà phê sản xuất ra được tiêu thụ nội địa, đây là con số rất khiêm tốn so với thị trường tiêu thụ vốn đông dân của Việt Nam. Khoảng 85-90% diện tích cà phê hiện do các hộ nông dân nhỏ lẻ khai thác, khoảng 10-15% còn lại do các nông trường nhà nước khai thác. 

Người nông dân thường thu hoạch đồng thời xử lý tách hạt cà phê tại chỗ. Sau công đoạn này, một phần nhỏ cà phê được bán để tiêu thụ trong nước, còn lại phần lớn được bán cho các lái buôn. Lái buôn mua hàng của nông dân và bán lại cho các đơn vị chế biến và xuất khẩu (chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước). Người nông dân bán cà phê cho lái buôn nhưng thường bị ép giá thấp và trực tiếp chịu tác động biến động giá xuất khẩu. 

Việt Nam là thành viên mới nhất trong danh sách xếp hạng những quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới. Tham gia vào thị trường này từ những năm 1990, Việt Nam hiện xếp thứ hai toàn thế giới sau Brazil về tổng sản lượng cà phê và là quốc gia xuất khẩu cà phê Robusta lớn nhất thế giới. Trong giai đoạn từ 1995 đến 2001, Việt Nam đã tăng gấp ba diện tích trồng cà phê, cải tiến công nghệ và giống cây cà phê để cải thiện hiệu suất thu hoạch hạt cà phê trên mỗi hec-ta canh tác. Trong khi người nông dân Colombia cần một triệu hec-ta đất canh tác để tạo ra khoảng 1/3 tổng lượng cung cà phê, thì người nông dân Việt Nam chỉ cần 2/3 triệu hec-ta để sản xuất ra hơn mười triệu bao cà phê mỗi năm. Tuy nhiên, trong giai đoạn 5 năm đó, do hệ thống tưới tiêu còn hạn chế không đáp ứng được thay đổi quy mô lớn và đột xuất, đa phần diện tích canh tác không có đủ lượng nước cần thiết.

Về nguồn cung, hiện ngành xuất khẩu cà phê có trên 140 doanh nghiệp xuất khẩu, với 4 doanh nghiệp hàng đầu là TCT Cà phê Việt Nam, Cà phê 2/9, XNK Intimex, và Tập đoàn Thái Hòa. Các doanh nghiệp nhỏ lẻ tổ chức mua và xuất khẩu cà phê, đồng thời bán lại cho khoảng 20 doanh nghiệp nước ngoài có nhà máy hoặc cơ quan đại diện tại Việt Nam. Chiến lược ngành cà phê Việt Nam hiện nay là khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài (cũng như trong nước) đầu tư vào lĩnh vực cà phê rang xay, chế biến cà phê hòa tan như Nestlé, Olam, Vinacafe Biên Hòa, Cà phê Trung Nguyên.

Khuyến khích chuyển giao kỹ thuật trồng cà phê GAP, UTZ, Rain Forest, cà phê cân bằng thân thiện với môi trường để tăng chuỗi giá trị cà phê lên cao. 

Thị trường cà phê Robusta giá rẻ và chất lượng thấp lớn mạnh khiến vị thế của Việt Nam trên thị trường cà phê thế giới tăng nhanh, tuy nhiên, cái giá phải trả ở đây là mất đi rừng và những biến đổi khác về môi trường. Với mức tăng trưởng tương đối ổn định về sản lượng cũng như giá trị xuất khẩu trong những năm trở lại đây, ngành cà phê Việt Nam tiếp tục củng cố vị trí thứ hai trên thế giới về trồng và sản xuất cà phê.


Trong ba năm trở lại đây, diện tích và sản lượng cà phê không có biến động mạnh. Ngành cà phê Việt Nam giữ tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định về cả sản lượng sản xuất, lượng xuất khẩu cũng như tiêu dùng nội địa. Tỷ trọng sản lượng cà phê Arabica vẫn ở mức khiêm tốn so với cà phê Robusta khi tỷ trọng hai sản phẩm này lần lượt là 2.56% và 97.44%. Đáng chú ý là tốc độ tiêu thụ cà phê nội địa đang có mức tăng trưởng tương đối cao và ổn định, dự báo trong niên vụ 2010/2011 sản lượng tiêu thụ cà phê nội địa sẽ đạt mức tăng trưởng 12.1% so với cùng kỳ năm trước.

Theo số liệu thống kê, xuất khẩu cà phê năm 2012 đạt 1.732.156 tấn, trị giá 3.672.823.086 USD, tăng 37,8% về lượng và tăng 33,4% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Trong năm 2012, Việt Nam xuất khẩu cà phê nhiều nhất sang thị trường Hoa Kỳ, với 203.516 tấn, trị giá 459.616.328 USD, tăng 46,8% về lượng và tăng 34,7% về trị giá so với cùng kỳ năm trước, chiếm 12,5% tổng trị giá xuất khẩu. Thị trường nhập khẩu cà phê lớn tiếp theo của Việt Nam là Đức và Tây Ban Nha với trị giá lần lượt 427.178.275 USD và 216.281.513 USD, tăng 28,2% và 59,3%.

Giá bình quân xuất khẩu trong năm 2012 đạt 2.120 USD/tấn, giảm so với giá bình quân xuất khẩu của năm 2011 đạt 2.191 USD/tấn.

(click vào hình để xem lớn hơn)

Những thuận lợi đối với ngành Cà phê Việt Nam

- Ngành cà phê hòa tan hứa hẹn nhiều triển vọng khi người tiêu dùng ngày càng đánh giá cao sự tiện lợi của dòng sản phẩm này. Thị trường cà phê Việt Nam hiện được phân chia thành 2 phân khúc rõ ràng: cà phê rang xay (cà phê phin) chiếm khoảng 2/3 sản lượng cà phê được tiêu thụ tại VN và cà phê hoà tan chiếm 1/3. Tập đoàn Nestle mỗi năm thu mua trung bình khoảng từ 20-25% sản lượng cà phê xuất khẩu của VN phục vụ cho việc sản xuất tại 15 nhà máy trên toàn thế giới. Nhu cầu trong nước dự kiến sẽ tăng với tốc độ 10.5%/năm trong giai đoạn 2008-2013 do thu nhập bình quân đầu người tăng và sản phẩm ngày càng được giới trẻ ưa chuộng nhờ đặc tính tiện lợi, phù hợp với nhịp sống đô thị hoá. Ngoài những tên tuổi kinh doanh cà phê hoà tan quen thuộc như NesCafe (Nestle), VinaCafe, G7 Coffee (Trung Nguyên)... cuối năm 2006 vừa qua thị trường đã xuất hiện thêm các nhãn hiệu mới như Café Moment (Công ty CP Sữa VN - Vinamilk), Max Coffee (Singapore)… Tốc độ tăng trưởng của ngành cà phê hòa tan trên thế giới nói chung và tiêu thụ nội địa nói riêng tiếp tục hứa hẹn đem lại thành công cho ngành cà phê Việt Nam.

- Trong khi các nước xuất khẩu lớn như Brazil và Indonesia có khuynh hướng giảm sản lượng xuất khẩu cà phê Robusta và chuyển hướng sang sản xuất cà phê Arabica, ngành cà phê Việt Nam lại có tốc độ chuyển hướng tương đối chậm, tuy nhiên đây sẽ là một lợi thế. Khi mà tốc độ tăng trưởng nhu cầu cà phê hòa tan (nguyên liệu đầu vào là Robusta) đạt mức tăng trưởng hai con số và giá cà phê rang xay Arabica ngày càng tăng mạnh, ngành cà phê Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn do hiện nay Việt Nam đang xuất khẩu tới hơn 90% tổng sản lượng Robusta thu hoạch trong nước.

- Nhu cầu tiêu thụ nội địa tăng nhanh hơn sản lượng cà phê có thể xuất khẩu. Kinh tế phát triển đã đẩy nhanh quá trình đô thị hóa ở nhiều nước trồng cà phê và tạo ra những chuyển biến đáng kể đối với nhu cầu tiêu thụ cà phê thế giới, khiến những nước chuyên xuất khẩu cà phê trở thành những nước tiêu thụ cà phê hàng đầu. Trong nhiều thế kỷ qua, cà phê được vận chuyển từ Mỹ Latinh và châu Á sang các quốc gia phát triển ở phương Tây, nhưng hiện nay đang có sự thay đổi lớn khi cà phê ngày càng được tiêu thụ nhiều hơn tại thị trường bản địa. Nhu cầu tiêu thụ cà phê ở Mỹ Latinh và Đông Nam Á chiếm đến 88% trong số 2.5 triệu bao (loại 60kg) nhu cầu tăng thêm trong năm 2010. Việt Nam không chỉ hưởng lợi từ sự gia tăng nhu cầu của các nước đang phát triển nói chung mà còn là thị trường nội địa rộng lớn nói riêng.

Những thách thức đối với ngành Cà phê Việt Nam

- Thị trường cà phê Robusta giá rẻ và chất lượng thấp lớn mạnh khiến vị thế của Việt Nam trên thị trường cà phê thế giới tăng nhanh, tuy nhiên, cái giá phải trả ở đây là mất đi rừng và những biến đổi khác về môi trường.

- Sự phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu nên cà phê Việt Nam, theo dự báo của BMI, sẽ biến động theo cầu và giá cả cà phê Robusta thế giới. Từ năm 1989 đến năm 2004, những năm khủng hoảng của ngành cà phê, giá cà phê luôn ở mức rất thấp khiến cho các nhà sản xuất phải chịu rất nhiều thua lỗ do chi phí sản xuất cao hơn giá bán. Có một số lo ngại rằng việc sản xuất các loại cà phê giá rẻ ồ ạt khiến cung vượt quá cầu sẽ lại một lần nữa gây ra làn sóng giảm giá, từ đó tạo ra nhiều rào cản hơn cho nhà xuất trong việc mở rộng hoạt động sản xuất.

- Những thách thức mà ngành cà phê Việt Nam đang phải đối mặt trong tương lai gần bao gồm: Diện tích cà phê đang trở nên già cỗi; Phần lớn diện tích cà phê trồng không đúng quy cách; Chăm sóc không đúng kỹ thuật; Nguồn cây giống không đảm bảo; Việc sản xuất cà phê còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ.

- Ngành cà phê là điển hình rõ nhất cho sự bất công trong phân phối tài sản thế giới, yêu cầu xác lập một thương hiệu nội địa bền vững là yêu cầu quan trọng cho một quốc gia sản xuất cà phê lớn như Việt Nam. Không xây dựng được thương hiệu đủ mạnh, ngành cà phê Việt Nam sẽ vẫn chỉ dừng lại ở giai đoạn đầu của chuỗi sản xuất cà phê.

Thị trường cà phê hòa tan tăng tốc 

Theo thống kê của Hiệp hội cà phê Anh Quốc, năm 2000, tỷ trọng tiêu thụ cà phê hòa tan chỉ chiếm 13% trên tổng sản lượng tiêu thụ cà phê và chỉ sau 10 năm, con số này đã vượt ngưỡng 40%, hiện cà phê hòa tan vẫn tiếp tục tăng tốc mạnh và đe dọa tỷ trọng tiêu thụ của sản phẩm cà phê rang xay truyền thống. Hai quốc gia có tỷ lệ tiêu thụ cà phê hòa tan lớn là Anh với 81% và Nhật Bản với 63% trong khi đó tại thị trường truyền thống Mỹ, lượng tiêu thụ cà phê hòa tan chỉ chiếm 9%. 

Theo số liệu của Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) tiêu thụ cà phê của Việt Nam tăng trưởng 31% trong năm 2010, đạt 1,583 triệu bao trong đó cà phê hòa tan chiếm khoảng 38.5% tổng lượng tiêu thụ, cà phê rang xay chiếm khoảng 61.5%. Tốc độ tăng trưởng sản xuất cà phê hòa tan tăng chỉ khoảng 4.5% nhưng tăng trưởng về tiêu thụ cà phê hòa tan của Việt Nam vẫn đạt mức hai con số.



Thị trường cà phê hòa tan Việt Nam tăng trưởng mạnh trong những năm trở lại đây, bình quân 7.9%/năm trong giai đoạn 2003-2008 và được dự báo sẽ giữ mức tăng trưởng cao khoảng 10.5%/năm trong giai đoạn 2008-2013, theo khảo sát của Công ty Nghiên cứu Thị trường Euromonitor. Tính cho đến thời điểm hiện nay, thị trường cà phê hòa tan Việt Nam đang diễn ra “cuộc đua tam mã” giữa ba gương mặt tiêu biểu là Vinacafe (Công ty Cổ phần Cà phê Biên Hòa - Vinacafe); Nescafe (Nestlé - Thụy Sĩ) và G7 (Công ty Trung Nguyên), bên cạnh các nhãn hàng nhập khẩu khác. Cuộc đua chiếm lĩnh thị trường giữa 3 doanh nghiệp sẽ tiếp tục là liều thuốc kích thích cho sự phát triển của ngành cà phê Việt Nam.

Theo SMES/ 2011

Share this article :

0 comments:

Post a Comment

 
Liên kết : Tin tức nông nghiệp | Tài liệu nông nghiệp | Quỹ Tam nông
Copyright © 2013. MARKETING NÔNG NGHIỆP - All Rights Reserved
Template Modify by Creating Website
Proudly powered by Blogger